XEM XÉT HỢP VÀ XUNG KHẮC CỦA HÔN NHÂN THEO TÂM LINH

Quan trọng nhất của hôn nhân là HÒA HỢP. Cần xét sự hòa hợp trên cả 2 lĩnh vực : xã hội và tâm linh, trong đó hòa hợp về xã hội quan trọng hơn, hòa hợp về tâm linh là bổ sung. Hòa hợp về xã hội bao gồm các vấn đề như tình yêu, quan điểm về chính trị, nghề ghiệp, tôn giáo, tính tình, nhân cách, sự tôn trọng, lòng vị tha và trắc ẩn, bạn bè, môn đăng hộ đối, hòa hợp về sở thích, về tình dục v.v…Những sự hòa hợp này thuộc HẬU THIÊN, có thể điều chỉnh tùy theo tình cảm, trí tuệ, ý chí, sự nổ lực của mỗi người.
Hòa hợp về tâm linh là thuộc về tuổi tác, thuộc về TIÊN THIÊN, hầu như không thể thay đổi ( có thể thay đổi nhưng rất khó ), thường gồm các tiêu chí sau : Can chi, ngũ hành, bát quái ( Lữ tài và Phi cung), ngoài ra còn một số tổng kết theo kinh nghiệm.
Nhiều bạn trẻ khi dự định kết hôn thường chỉ chú ý tới sự hòa hợp về xã hội ( mà trong đó thường chỉ coi trọng tình yêu và coi nhẹ các vấn đề khác ), còn các bậc cha mẹ lại chỉ thường chú ý đến lĩnh vực tâm linh, quá coi trọng tuổi tác.
I-VỀ CAN CHI
Có 10 THIÊN CAN là : Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Có 12 ĐỊA CHI là : Tý , Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu , Tuất, Hợi ( 12 con giáp ). Ghép 10 can với 12 chi thành 60 cặp : Giáp tý, Ất sửu, Bính dần…cuốii cùng là Quý hợi. Người ta thường dùng 60 cặp này để chỉ thời gian : giờ, ngày, tháng, năm ( Thời gian can chi ).
II- VỀ NGŨ HÀNH
Đó là 5 tính chất của vạn vật, gồm Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ . Về ngũ hành cần xét tương sinh ( tốt ) hay tương khắc ( xấu )
Ngũ hành tương sinh gồm có : Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hỏa; Hỏa sinh Thổ; Thổ sinh Kim. Ngũ hành tương khắc có : Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.
Xét sinh khắc như sau. Khi A sinh B thì B được lợi nhiều, còn A lợi ít ( mẹ sinh con thì mẹ có bị hao tổn ). Khi C khắc D thì D bị hại nhiều, C cũng bị hại nhưng ít hơn.
Mỗi hành còn được chia thành 6 loại chi tiết
Hành Kim có : HẢI trung kim, bạch LẠP K, kim BẠC K, SA trung K, KIẾM phong K, thoa XUYẾN K.
Hành Thủy có : GIANG hạ T, TRƯỜNG lưu T, đại KHÊ T, thiên HÀ T, TUYỀN trung T, đại hải T
Hành Mộc có : TANG đồ M, LÂM đại M, TÙNG bá M, DƯƠNG liễu M, THẠCH lựu M, BÌNH địa M
Hành Hỏa có : TICH lịch H, PHÚC đăng H, LÔ trung H, THIÊN thượng H, SƠN đầu H, sơn HẠ H
Hành Thổ có : BÍCH thượng T, sa TRUNG T, THÀNH đầu T, LỘ bàng T, đại TRẠCH T, ỐC thượng T
Chú ý : Trên đây, mỗi hành có một chữ được viết HOA, dùng để gọi rút gọn tên hành đó, thí dụ HẢI là HẢI trung kim, KHÊ là đại KHÊ thủy, HẠ là sơn HẠ hỏa…riêng đại hải thủy sẽ dùng chữ khác, Việc thay như vậy sẽ được dùng vào việc tính toán để tìm ngũ hành của cặp can chi, sẽ viết trong một bài sau.
Ngũ hành của các can như sau : Giáp và Ất- hành Mộc; Bính + Đinh- Hỏa; Mậu+ Kỷ- Thổ; Canh+ Tân- Kim; Nhâm+ Quý- Thủy.
Ngũ hành của các chi : Hợi và Tý- hành Thủy; Dần+ Mão- Mộc; Thìn+Tuất+Sửu+ Mùi- Thổ ; Tị+Ngọ- Hỏa; Thân + Dậu- Kim.
Ngũ hành của mỗi cặp Can Chi. Mỗi cặp can chi, thí dụ Giáp tý, Đinh mão, Mậu thìn ( để ghi năm sinh của mỗi người ), ngoài hành riêng của can và của chi còn có ngũ hành chung của cặp. Thí dụ cặp Giáp tý. Hành của can Giáp là Mộc, hành của chi Tý là Thủy, ngũ hành của Giáp tý là Kim ( HẢI trung kim ). Cặp Đinh mão, hành của Đinh là Hỏa, của Mão là Mộc, của Đinh mão là Hỏa ( LÔ trung hỏa ), cặp Quý hợi, Quý-Thủy, Hợi-Thủy, Quý hợi- Thủy ( Đại hải thủy ) . Ngũ hành của các cặp can chi thường được cho trong các lịch hoặc sách xem về dự đoán ( Cách tính toán để tìm sẽ được trình bày trong một bài sau ).
III- VỀ BÁT QUÁI
Có 8 quái xếp theo thứ tự là Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn , Khảm, Cấn, Khôn hoặc xếp theo cách khác là : Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Mỗi người được nhận 3 quái là Sinh cung mệnh quái, Lữ tài mệnh quái và Phi cung mệnh quái. Thí dụ đàn ông sinh năm 1973, tuổi Quý Sửu có Sinh cung là Tốn, Lữ Tài là Càn, Phi cung là Ly. Riêng với nữ giới thì Phi cung và Lữ tài trùng nhau, thí dụ người nữ sinh năm1983 (Quý Hợi) lữ tài và phi cung là Đoài. Sinh cung mệnh quái dùng trong dự đoán vận mệnh. Phi cung dùng trong phong thủy, Lữ tài dùng trong hôn nhân. Bát quái của mỗi người phụ thuộc vào năm sinh, thường được cho trong các sách( Chú ý sách về phong thủy thường chỉ cho Phi cung mà không có Sinh cung và Lữ tài – Sẽ trình bày cách tính trong một bài sau ).
IV- XÉT HỢP HAY XUNG VỀ CAN CHI
Hợp về Chi ( Tam hợp ) là khi tuổi của 2 người chênh nhau 4 hoặc 8. Có 4 nhóm tam hợp sau : 1-Thân-Tý- Thìn; 2- Tị-Dậu -Sửu; 3- Hợi – Mão- Mùi; 4- Dần- Ngọ- Tuất. Thí dụ người tuổi Thân hợp với người tuổi Tý, tuổi Thìn, tuổi Tý hợp với Thân và Thìn v.v…( ba tuổi trong một nhóm hợp với nhau ).
Xung về chi ( tứ hành xung ) là khi tuổi 2 người chênh nhau 6. Có 6 cặp xung đối như vậy :1- Tý-Ngọ; 2-Mão- Dậu; 3- Thìn – Tuất; 4- Sửu-Mùi; 5-Dần –Thân; 6- Tị -Hợi. Người ta hay ghép thành 3 nhóm “ tứ hành xung” là : Tý-Ngọ-Mão-Dậu; Thìn- Tuất –Sửu – Mùi; Dần-Thân-Tị- Hợi. Tuy vậy nếu cách nhau 3 hoặc 9 tuổi thì chỉ là xung kề, ít có ảnh hưởng, thí dụ tuổi Tý với Mão hoặc với Dậu, tuổi Hợi với Dần và Thân…Chỉ nên quan tâm tới xung đối, có thể bỏ qua xung kề.
V- XÉT SINH KHẮC VỀ NGŨ HÀNH
Dựa vào năm sinh để biết ngũ hành. Hai năm liền kề nhau có chung một hành. Thí dụ Giáp Tý và Ất sửu có hành Kim ( Hải trung Kim ), Bính dần và Đinh mão có hành Hỏa ( Lô trung hỏa ). Xem hai hành của mình và của đối tượng là sinh hay khắc. Thí dụ một người sinh năm 1988-tuổi Mậu Thìn, hành Mộc ( Lâm đại Mộc ), người kia sinh năm 1993- Quý Dậu, hành Kim ( Kiếm phong kim ). Kim khắc Mộc. Người A sinh năm 1983 (Quý hợi ), hành Thủy ( đại hải thủy ), người B sinh 1985 ( Ất sửu ), hành Kim ( hải trung kim). Kim sinh Thủy .
Ngoài cách xét như trên có một số người còn xét thêm sự sinh khắc giữa CAN người này và CHI người kia. Thí dụ Kỷ tị ( 1989 ) và Nhâm thân ( 1992 ), xét chung, Kỷ tị hành Mộc, Nhâm thân hành Kim. Kim khắc Mộc. Xét riêng Kỷ với Thân, Nhâm với Tị. Kỷ hành Thổ, Thân hành Kim . Thổ sinh kim. Nhâm hành Thủy, Tị hành hỏa. Thủy khắc hỏa. Xét chung đây là trường hợp yếu về ngũ hành.
VI-XÉT QUAN HỆ VỀ BÁT QUÁI
Dựa vào QUÁI chia thành 2 nhóm, 4 quái thuộc nhóm phương đông gồm : Ly, Khảm, Chấn, Tốn ( Đông tứ mệnh ), 4 quái thuộc nhóm phương tây, gồm : Càn, Khôn, Đoài, Cấn ( Tây tứ mệnh). Khi xét về hôn nhân thì dùng Lữ tài mệnh quái. Khi xem xét về phong thủy thì dùng Phi cung mệnh quái. Lấy quái của hai người để so sánh xem ở trong cùng nhóm hay khác nhóm. Trong cùng nhóm sẽ có các quan hệ tốt như : sinh khí, phúc đức, thiên y, phục vị. Khác nhóm sẽ có quan hệ xấu như : tuyệt mệnh, ngũ quỷ, hoạ hại, lục sát. Trong các quan hệ xấu, nhiều người vì không biết nên rất sợ “ tuyệt mệnh”, cứ nghe tên gọi tưởng là sẽ có gì nguy hiểm đến tính mệnh. Thật ra “ tuyệt mệnh” chỉ là có điều không được như ý muốn mà thôi.
VII-PHÂN TÍCH.
Thời trước, khi hôn nhân chủ yếu do “cha mẹ đặt đâu ngồi đấy” thì việc xem tuổi tác đã có các cụ lo, nam nữ chỉ cần “ xem mặt” để thấy có vừa ý hay không, tình yêu chủ yếu sẽ đến sau khi cưới do sự sống chung, cùng chia sẽ vui buồn, do đề cao trách nhiệm, nghĩa vụ. Có một thời khá dài ( khoảng từ 1945 đến 1985- sau CM và trong KC ) hôn nhân chủ yếu là tự do theo tình yêu, rất ít người quan tâm đến xem tuổi tác cũng như xem ngày cưới ( theo duy vật, cho như thế là mê tín ). Gần đây lại nổi lên việc xem tuổi tác trai gái khi kết hôn, và như trên đã viết : đương sự ( trai, gái ) chỉ quan tâm đến tình yêu, còn cha mẹ lại chỉ quan tâm đến tuổi tác. Vì thế mà ngoài số đông hôn nhân hạnh phúc ( do kết hợp được các sự hòa hợp kể trên ) đã xẩy ra một số đau khổ theo 1 trong 3 trường hợp. TH 1- Trai gái yêu nhau tha thiết nhưng bố mẹ ngăn cản không cho kết hôn vì bị xung tuổi hoặc bị khắc ngũ hành. TH 2-Trai gái yêu nhau say đắm, kết hôn xong chỉ một thời gian buộc phải chia tay vì không hòa hợp được, không thể sống chung. TH 3- Bị ép buộc hoặc vội vàng kết hôn khi chưa có tìm hiểu chu đáo dẫn tới không có sự hòa hợp, không có được tình yêu và sự tôn trọng nhau sau khi cưới.
Năm nay gần 80 tuổi, tôi đã theo dõi, tìm hiểu nhiều cuộc hôn nhân của 4 thế hệ : 1- thế hệ bậc trên ( cha , anh- trên 85 tuổi ). 2-thế hệ bạn bè, em út ( từ 60 đến 85 tuổi ), 3- thế hệ bậc con ( từ 35 đến 60 ), 4- thế hệ bậc cháu. ( dưới 35 tuổi ). Qua tìm hiểu, phân tích tôi đi đến kết luận đã viết ở trên là “ Sự hòa hợp về xã hội là quan trọng hơn, có tính quyết định, còn sự hòa hợp về tâm linh là để bổ sung vào”. Tôi đã chứng kiến nhiều cuộc hôn nhân phạm vào xung đối của chi( cách nhau 6 tuổi ), phạm vào khắc ngũ hành, phạm vào quan hệ xấu của bát quái mà gia đình vẫn phát triển bình thường, nghĩa là vợ chồng vẫn sống thọ và khỏe mạnh, con cái trưởng thành. Nếu nói là hoàn toàn hạnh phúc thì các gia đình ấy chưa đạt được vì trong cuộc đời có những lúc gặp khó khăn, mâu thuẩn, vợ chồng có lúc giận hờn, cải vã, thậm chí bỏ nhà đi vài hôm, nhưng cuộc sống nói chung là chấp nhận được, không đến nỗi nào với điều kiện là có sự hòa hợp về xã hội ( tôn trọng nhau và giữ được tình yêu sau khi cưới ). Ngay bản thân tôi, khi cưới vợ không hề xem tuổi, không xem ngày gì cả, sau này xem mới thấy gặp quan hệ tuyệt mệnh, lại gặp tứ hành xung, nhưng được ngũ hành tương sinh, thế mà cuộc đời cũng tạm được. Có vài người giải thích cho rằng tôi bị quan hệ tuyệt mệnh trong hôn nhân nên chỉ có toàn con gái ( không có con trai nối dõi, thế chẳng tuyệt mệnh là gì). Trường hợp một chị họ ( Nhâm Thân 1932- Kiếm phong Kim, lữ tài Khảm), lấy chồng cách 6 tuổi ( Bính Dần- 1926- Lô trung Hỏa, lữ tài Cấn ), vừa bị xung đối Dần- Thân, ngũ hành Hỏa khắc Kim, lại bị quan hệ ngũ quỷ trong bát quái. Thế mà anh chị sống đến bây giờ, U90, anh làm đến Thứ trưởng, khỏe mạnh, chị bị đau khớp từ lúc còn trẻ nhưng vẫn đi lại và hoạt động bình thường , năm 80 tuổi mổ thay khớp gối, con cái đề huề, trưởng thành giỏi giang, chỉ có điều hồi trẻ thỉnh thoảng có cãi nhau và giận hờn chút ít. Xem xét trường hợp này tôi thấy nếu hồi anh chị còn mới yêu nhau ( 1952-53 ) mà đi xem tuổi thì chắc chắn bị mọi người ngăn trở.
Ngoài 2 trường hợp trên tôi có thể kể ra nhiều trường hợp tương tự ( bị xung khắc tuổi tác nhưng hôn nhân vẫn bình thường ). Tuy vậy cũng có thể kể ra một số trường hợp khác, hôn nhân thất bại, không hạnh phúc hoặc thậm chí bị tai họa. Tìm ra thì thấy trong một số trường hợp đó có yếu tố xung khắc tuổi tác. Tôi phân tích thấy rằng quan hệ tâm linh ( tuổi tác ) có ảnh hưởng đến tình trạng hôn nhân nhưng không đóng vai trò quyết định quan trọng. Vai trò quyết định trong hôn nhân là các quan hệ xã hội mà mấu chốt là tình yêu thương sâu đậm và chân thành, lòng tôn trọng thực sự, sự thông cảm sâu sắc, lòng trắc ẩn, vị tha, là những hoạt động nhằm tạo nên phúc đức. Phần tâm linh ảnh hưởng lớn đến cuộc đời là số mệnh ( số tử vi ).
Khi xem xét ảnh hưởng của tuổi tác đến hôn nhân cần xem xét toàn diện, thấy được đầy đủ các quan hệ hợp và sinh cũng như các quan hệ xung và khắc. Trong rất nhiều trường hợp mà tôi đã biết chưa thấy có trường hợp nào hoàn toàn tốt, đạt số điểm tối đa ( 45 điểm ). Không nên chỉ vì tìm thấy một chỗ nào đó có xung khắc đã vội phóng đại lên, dựng lên những nguy hiểm chưa chắc sẽ xẩy ra để dọa người cả tin, yếu bóng vía. Thí dụ tuổi Mậu Thìn ( 1988) và Ất hợi ( 1995 ), có người phát hiện Ât hành Mộc, Thìn hành Thổ, mộc khắc thổ, Mậu hành Thổ, Hợi hành thủy, thổ khắc thủy. Phát hiện ra 2 cái khắc rồi làm ầm lên là 2 người không được kết hôn, thế nhưng đã bỏ qua Mậu thìn hành Mộc, Ất hợi hành Hỏa, mà Mộc sinh Hỏa, hơn nữa quan hệ lữ tài là tốt, Thìn và Hợi không bị xung, xét toàn thể thì 2 người này có thể kết hôn được nếu hòa hợp về xã hội là khá tốt.
Trong việc này tôi đề nghị các bạn trẻ khi tìm hiểu nhau, ngoài lòng cảm mến thì nên có quan tâm đến tuổi tác để tránh trường hợp khi đã yêu nhau quá sâu nặng, bị bố mẹ phát hiện ra xung khắc rồi ngăn cấm, gây mâu thuẩn khó khắc phục. Đối với các bậc bố mẹ thì cần có sự hiểu biết đúng đắn về xung khắc, chớ vội nghe một vài người chỉ mới biết loa qua mà vội phán lung tung, có xét phải xét cho toàn diện chứ không đề cao quá một chi tiết nào đó. Trong các quan hệ tâm linh khó có trường hợp mà mọi quan hệ đều tốt, chỉ cần các quan hệ tốt cân bằng hoặc thắng thế là được. ( còn nữa- Bài tiếp : Một số kinh nghiệm theo sách “ Hôn nhân tiềLINH

nh” ).
Nguồn: thầy Nguyễn Đình cống

Leave a Comment